Nội dung trao đổi trong buổi đầu tiên của  Diễn đàn Kinh tế-Xã hội Việt Nam tại Boston

Thời gian:  12h – 15h ngày 17 tháng 03 năm 2012

Địa điểm:  20 Summer Road, Cambridge, MA

Buổi gặp mặt và thảo luận đầu tiên của Nhóm đã diễn ra thành công, đối thoại và tranh luận trên tinh thần xây dựng, cởi mở và chia sẻ kiến thức.

Buổi thảo luận được mở đầu bằng việc điểm qua Xếp hạng sức cạnh tranh của Nền kinh tế Việt Nam do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum – WEF) thực hiện; Dự báo tăng trưởng kinh tế do Trung tâm Thông tin kinh tế của tạp chí Nhà kinh tế (Economist Intelligence Unit – EIU) thực hiện; và Đề án nâng bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia Việt Nam.

Thứ nhất, theo WEF, trong vòng 2 năm qua, xếp hạng cạnh tranh của Việt Nam đã xuống 16 bậc và hiện nay đang đứng ở vị trí thứ 75 trên 144 nước được xếp hạng.  Xếp hạng cạnh tranh của Việt Nam cũng chỉ cao hơn một nước trong 8 nước ASEAN được xếp hạng.   Điều đáng chú ý là chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam bị lùi 41 bậc xuống vị trí thứ 106, là dấu hiệu cho thấy kinh tế vĩ mô của Việt Nam có nhiều bất ổn.  Trong khi đó, lạm phát, việc thiếu hụt nguồn vốn đầu tư do việc thặt chặt chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước, cơ sở hạ tầng yếu kém và tham nhũng vẫn là những cản trở lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế.

Thứ hai, trong Báo cáo Quốc gia tháng 01/2013 – Việt Nam, EIU cho rằng, nền kinh tế Việt Nam vẫn sẽ đạt được mức tăng trưởng 5.4% trong năm 2013 và  tiếp tục phục hồi trong các năm tiếp theo, với dự đoán từ năm 2014 đến năm 2017, GDP sẽ tăng bình quân khoảng 6.9% một năm.  Lạm phát đã được kiềm chế từ giữa năm 2011 và sẽ ở mức 7% một năm từ 2013 đến 2014 trước khi tăng lên mức 8.5% một năm từ 2014 đến 2017.  Đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục tăng trong giai đoạn này.  Đồng thời,  EIU cũng cho rằng tình hình xã hội và chính trị Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục ổn định trong các năm tới.

Về phía Việt Nam, Chính Phủ cũng đã thông qua Đề án nâng mức tín nhiệm quốc gia với mục tiêu đến năm 2020, Baa3 đối với xếp hạng tín nhiệm của Moody’s hoặc BBB- đối với xếp hạng tín nhiệm của S&P hoặc Fitch (Xếp hạng hiện tại B2) và tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7 – 8% một năm trong giai đoạn 2011-2020. Đến năm 2020 GDP theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010 và GDP bình quân đầu người theo giá thực tế vào khoảng 3.000 đô-la.

Các thông tin chi tiết có thể tham khảo trong tài liệu kèm theo tại http://www.sinhvienboston.org/wp-content/uploads/2013/03/Vietnam-%E2%80%93-Competitive-Ranking-by-the-World-Economics.pptx.

Tiếp theo, buổi thảo luận tập trung vào các điểm chính sau đây:

1. Liệu đánh giá triển vọng của EIU và mục tiêu đề ra trong Đề án của Chính Phủ có quá lạc quan so với tình hình thực tế hay không?

Có một số ý kiến cho rằng các đánh giá và mục tiêu này khá lạc quan và có thể chưa tính đến hết các yếu tố có thể kìm hãm sự phát triển của kinh tế trong các năm tới.  EIU là một tổ chức độc lập và dựa trên các tiêu chí khách quan để đánh giá, nhưng nếu để có kết luận cụ thể về tính chính xác thì cần phải xem xét nguồn dữ liệu mà EIU được cung cấp. Mục tiêu đề ra trong đề án của Chính phủ khá gần với con số dự báo của EIU.  Tuy nhiên, việc tăng 5 bậc trong xếp hạng tín nhiệm quốc gia (B1-Baa3) là mục tiêu rất tham vọng

Để xem xét tinh khả thi của các Đề án này, việc đánh giá lại các mục tiêu đã đạt được so với các kế hoạch và đề án trước đây là cần thiết. Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu chỉ ra rằng, tính thực tiễn của các chỉ tiêu trong các bản quy hoạch/kế hoạch ở Việt Nam là khá thấp, nhưng chúng có vai trò riêng của chúng. Ví dụ, những gì thực tế xảy ra khác xa so với các bản quy hoạch/ kế hoạch của Tp.HCM trong hai thập kỷ qua. Tuy nhiên, các bản kế hoạch hay quy hoạch đô thị được sử dụng như một công cụ để Thành phố có thêm quyền tự chủ từ Trung ương, kêu gọi các tổ chức quốc tế tài trợ các dự án công cộng, và khuyến khích khu vực tư nhân (cả trong và ngoài nước) tham gia xây dựng Thành phố. Công tác quy hoạch đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 10% một năm của Thành phố trong hai thập kỷ qua.

Ý kiến chung về việc xây dựng các chỉ tiêu, các bản quy hoạch, kế hoạch hay đề án cần sát với thực tế và có tính khả thi. Việc thay đổi liên tục trong kế hoạch phát triển ngành công nghệ thông tin là một ví dụ điển hình về vấn đề này. Nếu không có các kế hoạch và mục tiêu nhất quán và có tính khả thi thì nguồn lực quốc gia sẽ bị lãng phí rất lớn và khi các cơ hội đến sẽ không được tận dụng.

Có một thảo luận về dự báo đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục tăng trong giai đoạn tới. Dự báo này là cơ cơ sở vì chính sách Trung Quốc + 1 vẫn đang là chính sách chủ đạo của nhiều doanh nghiệp khi đầu tư vào khu vực. Tuy nhiên, người nêu ra ý này đã và đang tư vấn cho các doanh nghiệp FDI thấy rằng, các doanh nghiệp FDI vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục đầu tư ở Việt Nam. Một ý kiến khác cho rằng, có vẻ như các địa phương năng động và hiệu quả hơn trong việc thu hút FDI so với Trung ương.

2. Nền kinh tế Việt Nam nên phát triển theo hướng nào?  Cụ thể, Việt Nam nên ưu tiên phát triển những ngành nào để làm bàn đẩy cho phát triển kinh tế?  Những ngành nghề này nên do Chính Phủ hay thị trường quyết định?

Đây là vấn đề có hai ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng Việt Nam nên xác định hay chọn ra một số ngành công nghiệp mũi nhọn để tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trên thực tế, không có nước phát triển nào là không có ngành mũi nhọn.

Hiện nay Việt Nam không có ngành công nghiệp nổi trội, chủ yếu tập trung vào những ngành có giá trị gia tăng thấp, ít có đóng góp lớn cho ngành kinh tế.  Chính những yếu tố như cơ sở hạ tầng yếu kém, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, môi trường kinh doanh không ổn định, nhân công trình độ thấp khiến các nhà đầu tư nước ngoài e ngại khi lập cơ sở sản xuất kinh doanh tại Việt Nam.

Có ý kiến cho rằng Việt Nam nên tập trung vào các ngành dịch vụ, nhưng cũng có ý kiến cho rằng trên thế giới, dường như không có nước nào với qui mô kinh tế và dân số tương đồng với Việt Nam có thể trở thành nước phát triển chỉ bằng phát triển dịch vụ.

Ý kiến thứ hai cho rằng, Việt Nam không nên chọn ra ngành ưu tiên mà ngành nào trở thành ngành mũi nhọn là do thị trường quyết định, nhà nước chỉ nên đóng vai trò tạo ra môi trường thuận lợi để các ngành tự lớn lên.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc, trên thế giới,  việc chính Phủ lựa chọn ngành công nghiệp để ưu tiên phát triển đều thất bại. Điển hình rất là chiến lược phát triển ngành máy bay của Indonesia và ô tô của Malaysia cách đây gần bốn thập kỳ.  Với Hàn Quốc, chính phủ lựa chọn một loạt các ngành công nghiệp nhưng chỉ có một vài ngành công nghiệp là thực sự phát triển và có đóng góp cho nền kinh tế như công nghiệp đóng tàu. Đối với Đài Loan, những ngành thành công của họ ngày nay như công nghệ bán dẫn chẳng hạn không phải là những ngành được lựa chọn trước đây và các doanh nghiệp lớn của họ bây giờ đều có khởi nguồn từ các doanh nghiệp nhỏ. Thất bại của Việt Nam trong việc ưu tiên phát triển ngành công nghiệp đóng tàu trong khi không có một lợi thế nào về ngành này là một ví dụ.

Hiện tại có một số lý thuyết về phát triển khác nhau mà Việt Nam có thể tham khảo trong việc quyết định chính sách phát triển hay chính sách công nghiệp của mình.

Lý thuyết đàn sếu bay (flying-geese development pattern) là một lý thuyết rất nổi tiếng trong khu vực đông và đông nam Á ở cuối thập niêm 1980 và đầu thập niên 1990 với điểm nhấn là sự ra đời của tác phẩm có tựa đề Sự thần kỳ đông Á do Ngân hàng thế giới tài trợ. Lý thuyết này nhấn mạnh việc dịch chuyển các ngành công nghiệp từ các nước phát triển như Nhật Bản sang các nước kém phát triển hơn. Nhật bản sẽ là con sếu đầu đàn để kéo các nền kinh tế khác trong khu vực bay theo. Tuy nhiên, sau đó lý thuyết này đã bộc lộ những nhược điểm của chúng và sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính trong khu vực và Ngân hàng thế giới lại tài trợ để cho ra đời quyển sách Suy nghĩ lại sự thần kỳ đông Á vào năm 2003.

Lý thuyết cụm công nghiệp (industrial cluster), với nguyên lý dựa trên thực tại của nền kinh tế, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau. Việc các cụm công nghiệp hay nhóm ngành hình thành thường mang tính tự nhiên và chính phủ có thể phân tích cách yếu tố liên quan theo mô hình viên kim cương của Michael Porter để có chính sách phù hợp tạo điều kiện cho các cụm công nghiệp phát triển một cách tự nhiên (Trên thực tế, xếp hạng về sức cạnh tranh của WEF được dựa vào khung phân tích của Michael Porter với 12 trụ cột chính trong 4 cấu phần của viên kim cương).

Lý thuyết về bước nhảy của bầy khỉ (Monkey Jumping) cho rằng việc lựa chọn các ngành nên gắn với thực tại phát triển của ngành kinh tế. Ví dụ việc chuyển từ trồng lê sang trồng táo thì sẽ tận dụng được hầu hết các kỹ năng và công nghệ của việc trồng lê, trong khi nếu chuyển từ trồng lê sang sản xuất dây đồng thì gần như không tận dụng được lợi thế gì hiện có. Một cách hình ảnh là những chú khỉ (tượng trưng cho các doanh nghiệp) chỉ có thể nhảy sang những cái cây gần đó để hái quả mà không thể nhảy đến những cái cây quá xa, vượt quá tầm với của chúng.

Nói tóm lại, việc các ngành phát triển như thế nào là do cạnh tranh hay thị trường tự quyết định mà không có can thiệp hay lựa chọn trực tiếp của chính phủ.

Một nội dung thảo luận quan trọng trong vấn đề này là bài học từ Singapore và Trung Quốc dựa trên lý thuyết về thể chế của Acemoglu và Robinson. Trung Quốc và Singapore là những mô hình chính trị-kinh tế có nhiều nét tương đồng với Việt Nam. Singapore trên thực tế theo mô hình cha truyền con nối. Các thế hệ sau được tạo điều kiện học hành tốt cũng như các điều kiện thuận lợi khác để lãnh đạo đất nước sau này. Singapore đã rất thành công trong thời gian qua, nhưng quy mô của nền kinh tế này khá nhỏ nên cách vận hành rất khác (có thể như một doanh nghiệp lớn) so với nhiều nước khác.

Với Trung Quốc, có những dự đoán (như của Daron Acemoglu) cho rằng nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển vì lợi thế về tài nguyên thiên nhiên chưa được sử dụng hết, nhưng một khi nguồn tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng lớn. Daron Acemoglu dự báo nền Kinh tế Trung Quốc sẽ gặp rắc rối lớn sau hai thập kỷ nữa. Việt Nam có nên phát triển kinh tế theo hướng của Trung Quốc, trong bối cảnh nguồn tài nguyên của Việt Nam đang có dấu hiệu cạn kiệt?

Có một ý kiến rất thú vị liên quan đến mô hình phát triển và tiềm năng cũng như triển vọng của kinh tế Việt Nam cho rằng, khu vực kinh tế tư nhân sẽ là một động lực quan trọng cho sự cất cánh của kinh tế Việt Nam trong tương lai. Nếu những nút thắt hạn chế sự phát triển của khu vực này được gỡ bỏ thì khả năng tiềm năng của Việt Nam sẽ được khai thác hiệu quả là rất cao.

3. Có nên tăng cường tính tự quyết của các địa phương đối với việc phát triển kinh tế hay không?

Có một số ý kiến cho rằng việc tăng cường tính tự quyết của các địa phương, thông qua thẩm quyết phê duyệt các dự án đầu tư, độc lập trong các quyết định về kinh tế, tự thu thuế và quyết định ngân sách sẽ tăng cường tính hiệu quả trong phát triển kinh tế của các địa phương.  Ngoài ra, cũng có thể cân nhắc việc phân bổ ngân sách như hiện nay.  Thay vì tập trung ngân sách cho các tỉnh vùng sâu vùng xa, ít mang lại hiệu quả về kinh tế thì tập trung ngân sách này cho các tỉnh thành có nền kinh tế phát triển.

Sự phát triển của các tỉnh thành này sẽ mang lại nguồn thuế lớn cho chính phủ để chính phủ có thể dùng nguồn tiền này quay lại đầu tư cho các tỉnh vùng sâu, vùng xa.  Tuy nhiên, “tipping point” (điểm chuyển) của chính sách này cũng là điều cần cân nhắc. Bên cạnh đó, vấn đề phi tập trung giao quá nhiều quyền tự chủ cho các địa phương hiện nay là điều đang gây ra nhiều tranh luận trong nước.

4. Phát triển kinh tế và khoảng cách giàu-nghèo trong xã hội?  Hiệu quả các chính sách của chính phủ đối với việc điều tiết công bằng xã hội?

Có một nghiên cứu chỉ ra rằng, so với các thành phố như Manila, Jakarta hay các thành phố của Ấn Độ thì mật độ các khu nhà ổ chuột ở các thành phố như Hồ Chí Minh, Hà Nội là ít hơn rất nhiều.  Điều này một phần là do chính sách của nhà nước thông qua việc cấp hợp thức hóa việc phát triển nhà ở tự phát cho các hộ dân song song với việc việc xây dựng một số cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, cấp và thoát nước… Đây là một trong những ưu điểm trong phát triển của Việt Nam trong thời gian qua.

5. Về quan điểm thảo luận và cách thức nhìn nhận vấn đề?

Các thành viên tham gia thảo luận cho rằng hiện tại nền kinh tế Việt Nam đang gặp rất nhiều vấn đề. Việc mổ xẻ các vấn đề, những tồn tại là cần thiết. Tuy nhiên, việc quan trọng hơn là tìm ra các giải pháp. Với lợi thế là người Việt Nam, dù ít hay nhiều cũng có những hiểu biết và cảm nhận nhất định về những vấn đề của Việt Nam. Hơn thế, tất cả những người tham gia thảo luận đều có điều kiện tìm hiểu các mô hình ở các nước, các nền kinh tế khác nhau. Tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến kinh tế xã hội Việt Nam vừa giúp các du học sinh người Việt trong vùng tận dụng được lợi thế so sánh để đạt kết quả tốt học học tập và công việc, đồng thời sẽ giúp ích cho đất nước.

Buổi thảo luận kết thúc với đánh giá khá lạc quan về nền kinh tế Việt Nam của các thành viên tham gia, dù các thành viên cũng mong muốn nền kinh tế phát triển hơn nữa, đúng với tiềm năng của đất nước.

Buổi thảo luận tiếp theo sẽ được tổ chức vào ngày 21/4/2013.

 

2 Comments

  1. Tôi rất vui mừng được tham khảo những vấn đề buổi hội thảo nêu ra.
    Là Kinh Tế gia, tôi đã cố gắng nêu 1 số vấn đề trước Đại Hội XI, blog VOA.
    Mong được trao đổi với các anh trong tương lai.
    Chân cứng đá mềm ….

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>