15. September 2014 · Comments Off on VSFB9: Tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam và triển vọng tái cấu trúc kinh tế · Categories: Diễn Đàn Kinh Tế Xã Hội Việt Nam (VSFB), Kinh tế, Thảo luận, Thao Luan Kinh tế - Tài chính, Tin của Hội, Tin tức

Sau một mùa hè, Diễn đàn Kinh tế-Xã Hội Việt Nam (VSFB) sẽ trở lại với chủ đề “Tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam và triển vọng tái cấu trúc kinh tế” với diễn giả Nguyễn Xuân Thành, hiện là Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP Hồ Chí Minh.

So sánh với giai đoạn 2009-2012, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã cải thiện đáng kể trong 2013-2014. Tuy nhiên, tăng trưởng vẫn còn chậm, đặt áp lực lên chính phủ một lần nữa phải nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa. Bài trình bày sẽ xem xét lại động lực tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam, xoáy vào những nguyên nhân gốc rễ khiến tăng trưởng chậm kéo dài, phân tích dư địa chính sách tiềm tàng cho việc áp dụng nhiều biện pháp hỗ trợ kinh tế vĩ mô ngắn hạn, và đánh giá những chọn lựa chính sách khác nhau nhằm tái cơ cấu kinh tế trung hạn. More »

18. February 2014 · Comments Off on VSFB8: Lịch sử và sự phát triển của Việt Nam · Categories: Diễn Đàn Kinh Tế Xã Hội Việt Nam (VSFB), Tin của Hội, Tin nổi bật, Tin tức

Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá khứ. Tuy nhiên nó rất có ý nghĩa cho việc nhìn đến tương lai và sự phát triển của một quốc gia. Nói cách khác, dường như có sự liên hệ mật thiết giữa quá khứ và tương lai của một dân tộc.

Trong Diễn đàn Kinh tế – Xã hội Việt Nam tại Boston lần thứ 8 (VSFB8), giáo sư Hồ Huệ Tâm, giáo sư danh hiệu Kenneth T. Young về  lịch sử Việt Nam và Trung Quốc  tại Đại học Harvard sẽ chia sẻ những vấn đề liên quan giữa lịch sử và phát triển của Việt Nam. More »

Sử dụng tốt tiếng Việt (nhất là kỹ năng viết) là một trong những yếu tố quan trọng để du học sinh có thể làm việc hiệu quả ở Việt Nam. Anh Mai Hữu Tín và chị Thảo Griffiths đã chia sẻ như vậy trong buổi gặp mặt đầu năm học 2013-2014 – VBCOOL6 của Hội TNSV Việt Nam vùng Boston mở rộng. Trên thực tế, không ít du học sinh gặp phải vấn đề giao tiếp bằng tiếng Việt. Ngược lại, nhiều người nước ngoài đã làm cho chúng ta ngạc nhiên về khả năng sử dụng tiếng Việt của họ.

Trong Diễn đàn Kinh tế – Xã hội Việt Nam tại Boston lần thứ 7 (VSFB7), tiến sỹ Ngô Như Bình, giảng viên cao cấp, giám đốc Chương trình tiếng Việt  tại Đại học Harvard sẽ chia sẻ những vấn đề liên quan đến việc sử dụng và phát huy tiếng Việt trong thời đại toàn cầu hóa (Thông tin về diễn giả có thể tham khảo tại đây: http://ealc.fas.harvard.edu/people/binh-ngo).

Thời gian: Từ 14h00-16h00, chủ nhật, ngày 16/02/2014

Địa điểm: Conference Room, 5 Bryant Street, Cambridge, MA 02138

Do địa điểm có giới hạn, đề nghị những ai quan tâm đăng ký tham dự vào mẫu dưới đây.

[form form-41]

Hiện tại mới chỉ có khoảng 1/3 dân số Việt Nam sống ở các đô thị và dự báo trong vài thập niên tới con số này sẽ tăng gấp đôi. Tốc độ đô thị hóa rất nhanh chóng đang đặt ra rất nhiều thách thức cho Việt Nam. Làm sao để phát huy những điểm lợi và hạn chế những mặt tiêu cực của tiến trình đô thị hóa nhanh chóng này là  không hề đơn giản. Trong đó, những khía cạnh về văn hóa – xã hội dường như chưa được quan tâm đúng mức. Điều gì đang xảy ra và những kịch bản trong tương lai sẽ như thế nào cho quá trình đô thị hóa ở Việt Nam là quan tâm của nhiều người.

Trong Diễn đàn Kinh tế – Xã hội Việt Nam tại Boston lần thứ 6 (VSFB6), Tiến sỹ Erik Harms, giảng viên nhân chủng học tại Đại học Yale sẽ chia sẻ một số vấn đề liên quan đến tiến trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Với chủ đề : Sang trọng và Đập phá ở Sài Gòn Mới, hai mặt của một vấn đề sẽ được Ts. Harms đưa ra để cùng trao đổi trong sự kiện này.

Thời gian: Từ 14h00-16h00, chủ nhật, ngày 01/12/2013

Địa điểm: Seminar Room 1-C, 20 Sumner Road, Cambridge, MA 02138

Giới hạn số người tham gia: 30

Thông tin về diễn giả: Ts. Erik Harms là giảng viên về nhân chủng học tại Đại học Yale với trọng tâm nghiên cứu ông về các vấn đề văn hóa – xã hội ở các nước đông nam Á và Việt Nam. Những nghiên cứu chính của ông trong khoảng một thập kỷ qua tập trung vào những khía cạnh văn hóa – xã hội của quá trình đô thị hóa nhanh chóng ở Tp.HCM. Ts. Erik Harms có bằng tiến sỹ của Đại học Cornell năm 2006. Thông tin chi tiết về diễn giả có thể tham khảo tại:

http://www.yale.edu/anthro/anthropology/Erik_Harms.html.

Do địa điểm có giới hạn, đề nghị những ai quan tâm đăng ký tham dự vào mẫu dưới đây. Đối với những trường hợp vượt quá thứ tự 30 sẽ vào danh sách dự bị.

Thông tin đăng ký theo mẫu dưới đây:

[form form-41]

Vào ngày 27/10/2013, tại Diễn đàn Kinh tế – Xã hội Việt Nam thuộc Hội Thanh niên – Sinh Viên Việt Nam vùng Boston mở rộng,  Giáo sư Dwight Perkins Đại học Harvard đã chia sẻ về quá trình phát triển của các nước Đông Nam Á và Đông Á.

Giáo sư Perkins bắt đầu bài nói chuyện bằng việc điểm qua tình hính phát triển của các nước Đông Á và Đông Nam Á.  Trong khi Trung Quốc có mức tăng trưởng 8% đến 9.3% trong suốt ba thập niên từ 1991 đổ lại đây thì Nhật Bản cũng có mức tăng trưởng rất cao, từ 7.3% cho đến 9.8% trong suốt thời kỳ từ 1955 cho đến 1970, trước khi giảm mức độ tăng trưởng từ 1971 cho đến nay.  Hàn Quốc duy trì mức tăng trưởng từ 5.7% cho đến 7.5% từ những năm 1961 cho đến 2000.   Trong khi đó, mức tăng trưởng của các nước Đông Nam Á thấp hơn nhiều và có xu hướng chậm lại.  Ví dụ, Phillippines có mức tăng trưởng cao nhất chỉ ở mức 3.4% từ năm 1945 cho đến nay, Indonesia là 5.4% trong thời kỳ từ 1971 đến 1980.   Việt Nam sau hai thập niên từ 1991 đến 2010 có mức tăng trưởng là 5.9% thì đã có xu hướng chậm lại và giảm xuống chỉ còn 4.4% từ năm 2011 trở lại.  Mức độ tăng trưởng nhanh trong thời gian dài có sức ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế.   Ví dụ, chỉ với mức tăng trưởng GDP 5% một năm thì trong vòng 28 năm, một nền kinh tế có thể tăng qui mô nền kinh tế gấp bốn.  Nếu duy trì mức tăng trưởng 9% thì chỉ trong khoảng 20 năm, qui mô nền kinh tế đã mở rộng đến 8 lần.

Giáo sư đã lý giải một số lý do vì sao các nền kinh tế ở khu vực Đông Á lại có mức tăng trưởng cao hơn các nước ở khu vực Đông Nam Á, trong đó nhấn mạnh vào (i) sự khác biệt giữa sự kế thừa về mặt lịch sử của các nước ở khai khu vực; và (ii) các cách tiếp cận khác nhau của các nước trong hai khu vực này đối với chính sách công nghiệp hóa.

1. Sự khác biệt về mặt lịch sử giữa các nước tại Đông Á và Đông Nam Á

Dựa vào bối cảnh lịch sử của các nước trong hai khu vực này, Giáo sư đưa ra một số lý do mang tính lịch sử để lý giải cho sự chênh lệch này giữa hai khu vực:

Thứ nhất, các nước và vùng lãnh thổ tại Đông Á, ngoại trừ Hàn Quốc, Hồng Kông và Đài Loan, không phải là các nước thuộc địa trong quá khứ.  Trung Quốc chưa bao giờ bị ngoại bang thống trị, mà luôn luôn là nước tự chủ về mặt chính trị.  Nhật Bản, dù có một thời gian sau chiến tranh không tự chủ về mặt chính trị, nhưng đó là do Nhật Bản quyết định tự đầu hàng quân Đồng Minh nhằm mục đích gây xựng một nền kinh tế vững mạnh sau chiến tranh thế giới thứ hai.  Hàn Quốc cũng có một thời kỳ nằm dưới sự thống trị của Nhật Bản nhưng cũng không phải là quá dài, từ năm 1910 cho đến năm 1945.  Ngược lại, các nước Đông Nam Á đều là các nước thuộc địa, có ít kinh nghiệm về việc tự trị.  Đơn cử như Việt Nam cũng trải qua gần 80 năm là thuộc địa của Pháp.

Thứ hai, các nước Đông Á đều thống nhất đất nước từ rất sớm, có nền văn hóa khá thuần nhất, ngôn ngữ tương đối đồng nhất và ít chịu tác động của yếu tố phân chia dân tộc.  Các nước Đông Nam Á đều lần lượt nằm dưới sự thống trị của các cường quốc như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, v.v. và chính các cường quốc này đã vạch nên đường biên giới cho nhiều nước Đông Nam Á.  Việt Nam là nước có hoàn cảnh khá đặc biệt, vì có tính thuần nhất về mặt dân tộc giống như các nước Đông Á, nhưng cũng phải trải qua thời kỳ dài là nước thuộc địa và hai cuộc chiến tranh.

Thứ ba, các nước Đông Á có nền giáo dục khá phát triển đi trước các nước Đông Nam Á.  Ví dụ, theo tài liệu của World Bank, tỷ lệ người học hết cấp hai của Nhật Bản là 74% vào những năm 1960, ở Trung Quốc vào khoảng 30% số nam giới, trong khi tỷ lệ này ở Indonesia là 3%, Malaysia là 19% và Thái Lan là 8%.  Từ những năm 1930, thế giới đã có các kỹ sư Trung Quốc, trong khi đó từ năm 1950, tỷ lệ biết chữ của nam giới tại Nhật Bản là 50%.  Theo Giáo sư,  đối với một cá nhân, việc sinh trưởng trong một gia đình có nền tảng giáo dục vững chắc sẽ mang lại cho cá nhân đó nhiều lợi ích hơn so với việc sinh trưởng trong một gia đình không có nền tảng giáo dục tốt.  Nền tảng giáo dục tốt cũng ảnh hưởng lớn đến nguồn nhân lực của cả một dân tộc.  Giáo sư cũng cho rằng, người Việt Nam coi trọng giáo dục do ảnh hưởng của Khổng giáo, tuy nhiên, chất lượng các trường đại học của Việt Nam chưa tốt.

Thứ tư, các nước Đông Nam Á giàu tài nguyên thiên nhiên trong khi các nước Đông Á hầu như không có nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn.  Giáo sư có giải thích ý nghĩa của hiện tượng “lời nguyền tài nguyên” vốn ám chỉ các nước càng giàu tài nguyên thiên nhiên thì càng nghèo đói và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi nạn tham nhũng.  Điều này là do giá tài nguyên khoáng sản thường biến động nhiều trên thị trường thế giới.  Khi giá tài nguyên khoáng sản tăng, quan chức chính phủ có nhiều quyền lực trong việc quyết định phân bố việc khai thác khoáng sản, do đó, xu hướng tham nhũng có xu hướng gia tăng.  Khi giá tài nguyên khoáng sản giảm, kinh tế bị ảnh hưởng xấu nhưng nạn tham nhũng không biến mất mà có xu hướng giữ nguyên mức độ.

Thứ năm, các nước Đông Á có bề dày tổ chức các hoạt động thương mại từ cổ xưa và có các thương gia dày dặn kinh nghiệm.  Do có được sự tự chủ, các thương gia của các nước này được trực tiếp tổ chức và tham gia vào các hoạt động thương mại phức tạp.  Trong khi đó, ở các nước Đông Nam Á, các hoạt động thương mại ở mức độ cao sẽ do chính quyền thực dân hoặc thương gia của các nước thực dân nắm giữ và tổ chức.  Người bản xứ tại các nước Đông Nam Á không có nhiều quyền đối với việc triển khai các hoạt động thương mại.  Điều này dẫn đến tình trạng tại các nước như Indonesia, Thái Lan, các thương gia người Trung Quốc có ảnh hưởng chi phối đến nền kinh tế các nước này.  Việt Nam cũng không có nhiều thương gia có kinh nghiệm trước khi giành được độc lập từ người Pháp.  Theo Giáo sư, nếu không có kinh nghiệm với các hoạt động kinh doanh thương mại thì một cá nhân, cũng như một dân tộc, khó có thể triển khai các hoạt động này được tốt.

2. Cách tiếp cận khác nhau với chính sách công nghiệp hóa

Cách tiếp cận của chính sách phát triển kinh tế và thời điểm phát triển kinh tế cũng giải thích sự khác biệt giữa các nước ở hai khu vực này.  Giáo sư lấy dẫn chứng vế chính sách công nghiệp hóa của hai nước, Hàn Quốc (đại diện cho Đông Á) và Indonesia (đại diện cho Đông Nam Á) để minh họa cho lập luận này.

Chính sách công nghiệp hóa bắt đầu từ Nhật Bản và phát triển khá tốt tại các nước Hàn Quốc và Trung Quốc.  Tuy nhiên, Hàn Quốc đã từ bỏ chính sách này sau khi theo đuổi chính sách này trong vài thập niên.  Chính sách này ngược lại thất bại tại các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Malaysia.

Tại Hàn Quốc, trong những năm 1960, Hàn Quốc phá giá đồng nội tệ, thực hiện rất nhiều trợ cấp để bảo vệ và phát triển thị trường nội địa trong khi tập trung cho xuất khẩu.  Sau khi Hàn Quốc thành công với việc phát triển dựa vào chính sách khuyến khích xuất khẩu, Hàn Quốc tập trung phát triển công nghiệp nặng trong những năm 1970.  Hàn Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh trong suốt thập niên 1970.  Tuy nhiên, chính sách trọng xuất khẩu và tập trung vào công nghiệp nặng cùng sự can thiệp sâu của nhà nước vào phát triển kinh tế đã đưa quyền lực chính trị vào tay một số các tập đoàn lớn và khiến nạn tham nhũng phát triển tại Hàn Quốc.  Trong những năm 1980, Hàn Quốc đã nới lỏng việc can thiệp vào nền kinh tế, nhưng tình trạng tham nhũng không có xu hướng giảm.  Đến năm 1997, kinh tế Hàn Quốc khủng hoảng và trong suốt thập niên 1990 cho đến nay, Hàn Quốc giảm việc can thiệp của chính phủ vào phát triển kinh tế và để nền kinh tế thị trường tự điều tiết.

Tại Indonesia, trong các thập niên 1970, Indonesia cũng tập trung một giai đoạn ngắn vào việc phát triển các doanh nghiệp nhà nước và phụ thuộc vào doanh thu từ trữ lượng dầu lớn.  Sau khủng hoảng kinh tế, tại Indonesia tồn tại hai quan điểm khác nhau về phát triển kinh tế:  Quan điểm của nhóm chính sách kinh tế là giảm tỷ giá hối đoái để tăng cường xuất khẩu và dỡ bỏ các hàng rào giấy phép cho chính chủ.  Kết quả là nền công nghiệp của Indonesia phát triển, sản xuất dành cho xuất khẩu tăng cường trong thập niên 80 và đầu 90.  Tuy nhiên, quan điểm nhóm lợi ích thân hữu và nhóm đầu cơ lại thiên về việc dành trợ cấp cho các dự án nhập khẩu lớn (như hóa dầu), và tập trung phát triển các doanh nghiệp nhà nước.  Kết quả là các doanh nghiệp nhà nước không có sức cạnh tranh, nợ nước ngoài nhiều và khủng hoảng kinh tế giai đoạn 1997 – 1998.

Sau phần trình bày các nguyên nhân dẫn đến chênh lệch, Giáo sư thảo luận với các sinh viên Việt Nam về tình hình kinh tế Việt Nam và lựa chọn hướng đi phù hợp để vực dậy kinh tế Việt Nam. Theo Giáo sư, mấu chốt để phát triển kinh tế là Việt Nam cần phải tập trung phát triển khu vực kinh tế tư nhân và không theo đuổi chính sách tập trung phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước.  Việt Nam cũng cần giải quyết tình trạng tham nhũng lan tràn.  So sánh với Trung Quốc, Giáo sư vẫn cho rằng Trung Quốc trấn áp tham nhũng mạnh tay hơn Việt Nam khi sẵn sàng bỏ tù các quan chức cấp cao tham nhũng.  Trong vòng 20 năm tới, Việt Nam hoàn toàn có cơ hội để vực lại tốc độ phát triển, thậm chí còn phát triển nhanh hơn Trung Quốc nếu Việt Nam có các nhà lãnh đạo thực sự tâm huyết với việc tiến hành cải cách kinh tế.  Nhận định về tình hình Trung Quốc, Giáo sư cho rằng, Trung Quốc sẽ phát triển chậm lại trong vòng một hai thập niên tới, tuy nhiên, mối đe dọa lớn nhất với sự phát triển của Trung Quốc đến từ bên trong, nhất là nội bộ Đảng Cộng Sản Trung Quốc, chứ không phải từ đe dọa bên ngoài.

 Phan Thanh Mai tổng hợp

Tham nhũng đang là một những vấn đề nan giải và kéo lùi sự phát triển của Việt Nam hiện nay. Con đường trở nên thịnh vượng của Việt Nam chỉ có thể trở thành hiện thực nếu tình trạng tham nhũng trầm kha hiện nay bị đẩy lùi đáng kể. Rất nhiều nước đã và đang rơi vào tình trạng tương tự như Việt Nam. Ngay cả Hoa Kỳ, cường quốc kinh tế số một thế giới hiện nay cũng đã rơi vào tình trạng tham nhũng tràn lan. Một số nước đã đầy lùi được tình trạng tham nhũng để trở nên thịnh vượng. Một số nước vẫn chưa thể tìm được giải pháp phù hợp cho vấn đề đau đầu này.

Các nước trên thế giới đã chống tham nhũng như thế nào là vấn đề quan tâm của nhiều người.

Trong Diễn đàn Kinh tế – Xã hội Việt Nam tại Boston lần thứ 5 (VSFB5), ông Trần Ngọc Anh, giảng viên về chính sách công và phát triển tại Đại học Indiana sẽ chia sẻ những kinh nghiệm chống tham nhũng ở một số nước trên thế giới.

Thời gian: Từ 17h30-19h30, thứ sáu, ngày 01/11/2013

Địa điểm: Seminar Room 1-C, 20 Sumner Road, Cambridge, MA 02138

Giới hạn số người tham gia: 30

Thông tin về diễn giả: Ông Trần Ngọc Anh hiện đang giảng dạy về chính sách công và chính sách phát triển tại Đại học Indiana, Hoa Kỳ. Chống tham nhũng là một trong những trọng tâm nghiên cứu chính của ông. Ông đã vinh dự được xướng tên trong Hội nghị quốc tế về chống tham nhũng tại Bangkok năm 2010. Ông cũng đã từng làm việc trong Ban nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải từ năm 2000-2003. Ông Trần Ngọc Anh nhận bằng tiến sỹ chuyên ngành chính sách công tại Đại học Harvard năm 2009.

Do địa điểm có giới hạn, đề nghị những ai quan tâm đăng ký tham dự vào mẫu dưới đây. Đối với những trường hợp vượt quá thứ tự 30 sẽ vào danh sách dự bị

Thông tin đăng ký theo mẫu dưới đây:

[form form-41]

02. October 2013 · Comments Off on VSFB4: So sánh quá trình phát triển của các nước đông và đông nam Á với giáo sư Dwight Perkins · Categories: Diễn Đàn Kinh Tế Xã Hội Việt Nam (VSFB), Kinh tế, Thao Luan Kinh tế - Tài chính, Tin nổi bật, Tin tức
Nguồn: Ảnh trên trang web của Đại học Harvard
GS Dwight Perkins
Nguồn: Ảnh trên trang web của Đại học Harvard

 

Khu vực đông và đông nam Á đã trở thành một trong những tâm điểm của thế giới trong suốt hơn nửa thể kỷ qua với những sự thần kỳ liên tiếp xuất hiện ở nhiều nước. Ngày nay, nhìn lại sẽ thấy một sự phân cực rất rõ ràng. Hầu hết các nước đông Á (trừ Triều Tiên) đã gặt hái được rất nhiều thành công và trở thành những nước đang Phát triển. Trung Quốc đi sau một chút nhưng cũng đạt được sự thần kỳ trong hơn 30 năm qua. More »

05. May 2013 · Comments Off on Tóm tắt VSFB2: Cải cách ở Myanmar nhìn từ câu chuyện Việt Nam · Categories: Diễn Đàn Kinh Tế Xã Hội Việt Nam (VSFB), Thảo luận, Thao Luan Kinh tế - Tài chính, Tin nổi bật

VSFB – Trong Diễn đàn Kinh tế – Xã hội Việt Nam tại Boston của Hội Thanh niên – Sinh viên Việt Nam vùng Boston Mở rộng lần thứ 2, ngày 28/04/2013,  Giáo sư David Dapice, Kinh tế trưởng Chương trình Việt Nam và Myanmar tại Đại học Harvard, một học giả hàng đầu về kinh tế Đông Nam Á đã chia sẻ về chủ đề “Cải cách ở Myanmar nhìn từ câu chuyện Việt Nam”.

GS. David Dapice đã nghiên cứu về Đông Nam Á từ cuối thập niên 1960 với khoảng 20 năm ở tập trung vào Indonesia. Kể từ lần đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1989, ông đã đóng vai trò chính trong các nghiên cứu và khuyến nghị chính sách của Chương trình Việt Nam tại Harvard là người đóng vai trò trực tiếp trong hai nghiên cứu quan trọng nhất của Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard, nhất là hai nghiên cứu quan trọng gồm: Theo hướng Rồng bay vào đầu thập niên 1990 và Lựa chọn Thành công năm 2008. Ông là một trong những học giả đầu tiên có những nghiên cứu sâu về Myanmar từ giữa thập niên 2000, khi mà Myanmar vẫn chưa có những cải cách gần đây. More »

Bước vào năm 2013 rất nhiều sự kiện quan trọng xảy ra trên thế giới ảnh hưởng đến  quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Nhiệm kỳ thứ 2 của Tổng thống Obama bắt đầu với sự thay đổi các vị trí nhân sự chủ chốt trong công tác đối ngoại và quốc phòng, nhất là vị trí Ngoại trưởng và Bộ trưởng quốc phòng. Trung Quốc chuyển giao thế hệ lãnh đạo 10 năm một lần. Những vấn đề ở khu vực Châu Á đang nóng lên hàng ngày và còn nhiều sự kiện khác nữa.

Những yếu tố nào sẽ ảnh hưởng và quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua cũng như trong thời gian tới như thế nào là vấn đề đáng quan tâm. Đây cũng chính là chủ đề chính của Diễn đàn Kinh tế – Xã hội Việt Nam tại Boston lần thứ ba (VSFB3). Để cập nhật các vấn đề liên quan trong thời gian qua và những nét chính trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới, chúng tôi trân trọng giới thiệu ông Lê Hoài Trung, Thứ trưởng ngoại giao, Đại sứ trưởng phái đoàn Việt Nam tại Liên hiệp quốc sẽ là diễn giả chính của VSFB3.

Thời gian: 13-16h, chủ nhật, ngày 12/05/2013

Địa điểm: 20 Sumner Road, Cambridge, MA 02138

(Phương án Dự phòng cho trường hợp đông người tại phòng E51-376 tại Massachusetts Institute of Technology, 2 Amherst Street, Cambridge, MA 02142)

Thông tin đăng ký theo mẫu dưới đây:

[form vsfb3]

Trong vài năm trở lại đây, Myanmar đã có những cải cách và mở cửa rất thú vị. Điều này đã tạo cảm hứng cho không khí tranh luận đa chiều ở Việt Nam. Có ý kiến cho rằng, với đà mở cửa và cải cách như hiện nay, chẳng mấy chốc Myanmar sẽ vượt qua Việt Nam.

Các nền tảng cải cách hiện nay của Myanmar và triển vọng của nền kinh tế này trong tương lai là điều được nhiều người quan tâm.

Để cung cấp thêm thông tin về vấn đề này, trong Diễn đàn Kinh tế – Xã hội Việt Nam tại Boston lần thứ 2 (VSFB2), giáo sư David Dapice sẽ chia sẻ về những nền tảng cải cách hiện nay ở Myanmar so sánh với nền tảng cải cách ở Việt nam trong thập niên 1980.

Thời gian: Từ 13h00-15h00 ngày 28/04/2013

Địa điểm: Seminar Room 1-C, 20 Sumner Road, Cambridge, MA 02138

Giới hạn số người tham gia: 30

Thông tin về diễn giả: Giáo sư David Dapice là Kinh tế trưởng Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard và đang giảng dạy tại Khoa Kinh tế Đại học Tufs. Ông đã nghiên cứu về các nước Asean hơn bốn thập kỷ. Kể từ lần đầu đến Việt Nam (1989) đến nay, ông đã cùng các đồng nghiệp của mình thực hiện rất nhiều các nghiên cứu về Việt Nam. Trong đó, đáng kể nhất là  nghiên cứu “Theo hướng rồng bay” vào đầu thập niên 1990 và “Lựa chọn thành công” vào năm 2008. Những vấn đề của nền Kinh tế Việt Nam đã được chỉ ra và dự báo với những kịch bản khác nhau. Một số dự báo, trên thực tế, đang xảy ra tại Việt Nam.

Với lợi thế ở một trường đại học nghiên cứu hàng đầu, nắm bắt ngay được những xu hướng cải cách mới manh nha, từ giữa những năm 2000, Chương trình Việt Nam ở Harvard đã bắt đầu nghiên cứu và tìm hiểu về Myanmar. Giáo sư David Dapice là người chủ trì các nghiên cứu này.

[form form-32]